Tổ chức chính quyền địa phương [fr]

Sự hình thành Nhà nước và phân quyền

Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được xây dựng trên nguyên tắc thống nhất và các cấp chính quyền là không thể bị chia rẽ. Quốc hội, biểu hiện ý chí của người dân, là cơ quan quyền lực cao nhất, mọi cơ quan khác nằm dưới quyền kiểm soát của Quốc hội. Theo Hiến pháp quy định, Nhà nước là thống nhất và tập trung. Chính quyền địa phương chịu sự chỉ đạo của Chính quyền trung ương, được phân cấp rõ ràng : mỗi cấp tuân theo chỉ thị của cấp cao hơn.

Tuy nhiên, Hiến pháp Việt Nam năm 1992 cũng có quy định về tính tự chủ của chính quyền địa phương. Thật vậy, chính sách Đổi mới đã tăng cường tính chủ động và mở rộng phạm vi chức năng của chính quyền địa phương các cấp. Chính sách này cho phép 63 tỉnh thành Việt Nam có quyền tự chủ đối với một số dịch vụ công cơ bản tại địa phương : giao thông vận tải, hạ tầng, y tế, giáo dục, cấp nước, vệ sinh, xử lý rác thải. Tuy nhiên, chính sách mới chỉ dừng lại ở mức độ « tản quyền » chứ chưa thực sự là « phân quyền » (phi tập trung) : chính quyền địa phương được giao một số nhiệm vụ và trách nhiệm cụ thể, họ được thực thi chúng một cách độc lập. Họ vẫn là một phần của Nhà nước.

Khái niệm « phân quyền » (phi tập trung quyền lực) đã được làm rõ hơn tại Đại hội 8 của Đảng cộng sản Việt Nam năm 1996 : « Vì lợi ích quốc gia trong quản lý các cơ quan nhà nước, chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, cần thực hiện việc phân quyền quản lý hành chính các địa phương một cách hợp lý, rõ ràng cho phép chính quyền địa phương các cấp phát huy tính tự chủ, khai thác được mọi tiềm năng sẵn có phục vụ phát triển kinh tế xã hội địa phương, đóng góp vào sự phát triển chung của cả nước. Theo đó, cần tăng cường trách nhiệm và quyền lực của chính quyền địa phương các cấp trong việc quản lý các vấn đề của địa phương, đặc biệt là trong các lĩnh vực công, thu chi ngân sách, sử dụng công chức địa phương và giải quyết các vấn đề hành chính khác tại địa phương ».

Theo Hiến pháp, các cơ quan hành pháp địa phương nằm dưới sự chỉ đạo của Thủ tướng. Ngoài ra, Trung ương vẫn đưa ra quyết định đối với các dự án đầu tư lớn trong đó chính quyền địa phương là một bên đối tác chính của các doanh nghiệp.

Phân chia hành chính ở Việt Nam

Lãnh thổ Việt Nam được chia thành 4 cấp hành chính:

Chính quyền trung ương

Cấp tỉnh, nằm dưới quyền của cấp trung ương : 63 tỉnh thành trong đó có 5 thành phố (Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà nẵng, Cần Thơ)

Cấp huyện, nằm dưới quyền của cấp Tỉnh và Thành phố : 713 huyện bao gồm cả các quận thuộc tỉnh và thuộc thành phố.

Cấp xã : 11 162 xã bao gồm các xã vùng nông thôn, phường và thị trấn

Tổ chức chính quyền địa phương các cấp

Ở tất cả các cấp, quyền ra quyết định cũng như việc thực thi quyết định thuộc về 2 cơ quan :

  • Hội đồng nhân dân : là cơ quan lập pháp của địa phương. HĐND đảm bảo thống nhất việc chỉ đạo từ trung ương đồng thời cũng đóng vai trò kết nối với các sáng kiến riêng của địa phương. Theo điều 199 của Hiến pháp, HĐND là « cơ quan quyền lực nhà nước tại địa phương ». Một mặt, HĐND quản lý các công việc của địa phương. Mặt khác, HĐND điều phối các hoạt động của nhà nước và thực thi các quyết định của chính phủ. Các hoạt động của HĐND đều được Uỷ ban thường trực của Quốc hội giám sát và chỉ đạo. Phạm vi thẩm quyền của HĐND bao trùm các lĩnh vực luật pháp, kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học và công nghệ, chính sách dân tộc và tôn giáo. HĐND họp 2 kỳ mỗi năm.
  • Uỷ ban nhân dân : là cơ quan hành pháp tại địa phương (thành viên UBND do HĐND bầu ra) vì vậy đây cũng là cơ quan hành chính của Nhà nước tại địa phương. UBND có nhiệm vụ áp dụng Hiến pháp, luật và các quyết định hành chính của cơ quan nhà nước cấp trên. Chủ tịch UBND nắm trong tay các quyền lực chính nhưng chịu sự kiểm soát một cấp khác tại địa phương là Bí thư Đảng uỷ. Họ thường họp mỗi tháng 1 lần.

Các đơn vị kỹ thuật chuyên trách hỗ trợ UBND trong thực thi nhiệm vụ, các đơn vị đó trực thuộc các bộ có liên quan (là Sở đối với cấp tỉnh và Phòng đối với cấp huyện). Các đơn vị này nằm dưới quyền của 2 nơi là UBND và đơn vị kỹ thuật tương đương ở cấp trên. Trên thực tế, các đơn vị này cũng có quyền tự chủ nhất định.

Các khu vực hành chính, bao gồm 7 khu vực (Đồng bằng sông Cửu Long, Đồng bằng sông Hồng, Vùng Đông nam bộ, Khu vực Duyên hải miền Trung, Khu Bắc Trung Bộ và Vùng Đông Bắc). Đây là các khu vực phân chia theo lãnh thổ. Các tỉnh thuộc các khu vực này đều có liên quan đến nhau khi người ta ra quyết định về đầu tư cơ sở vật chất, hạ tầng hoặc phối hợp thực hiện chính sách.

Cấp khu vực có hai vai trò, một là sự nối dài của Chính quyền trung ương và đồng thời cũng có vài trò là nơi ra quyết định / thực thi chính sách của chính khu vực đó tại địa phương nhưng vẫn theo tinh thần chỉ thị của trung ương.

Từ nhiều năm nay, Việt Nam đã cam kết nỗ lực trong việc phân quyền để có thể giảm tải các cơ quan trung ương đồng thời tăng cường cải thiện quản lý công tại các địa phương.

Vai trò của chính quyền địa phương trong phát triển ngày càng được cấp trung ương coi trọng hơn. Bằng chứng là Việt Nam đã sửa đổi Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các cấp, đưa thêm vào luật một chương liên quan đến chính quyền địa phương vào dự thảo Hiến pháp sửa đổi.

Cập nhật ngày 15/10/2018

Trở về đầu trang